CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC ĐẾN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

24/11/2021

ThS Trần Văn Hiệu

Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở

 

Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Yêu nước đối với Hồ Chí Minh là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, coi việc đánh đổ đế quốc, thực dân, đánh đổ ách thống trị của nước ngoài là yếu tố hàng đầu để giải phóng dân tộc, nhưng không dừng lại ở đó, cái đích vươn tới là dân phải được tự do, ấm no, hạnh phúc. Đó là lòng yêu nước chân chính, sâu sắc và triệt để, không mang tính nửa vời. Một tư tưởng yêu nước như vậy tự lô-gíc và tình cảm nội tại của nó đã mang tính vô sản và mang đậm tính nhân văn chủ nghĩa xã hội sâu sắc. Chủ nghĩa yêu nước chân chính đó cũng chính là động lực thôi thúc Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin.


1.    Quá trình hình thành chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh.

Trước hết, cần khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm con đường giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc với tấm lòng của một người Việt Nam yêu nước. Tinh thần yêu nước của Người được hun đúc bằng truyền thống yêu nước với bề dày hàng nghìn năm lịch sử của cha ông. Được hình thành trong quá trình dựng nước, trong đấu tranh và bảo vệ nền độc lập, thoát khỏi sự đô hộ của ngoại bang, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam nổi bật ở tính cố kết cộng đồng chặt chẽ giữa nhà - làng - nước để bảo vệ đất nước, bảo vệ độc lập, thống nhất dân tộc, bảo vệ cuộc sống cộng đồng và sự trường tồn của nền văn hoá dân tộc. Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý, triết lý sống, niềm tự hào của con người Việt Nam, khởi đầu từ lòng tự hào về “ Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước để muôn đời "1.

 Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Thực tế từ chính cuộc đời Người cho thấy, cậu bé Nguyễn Sinh Cung (tên khai sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã được nuôi dưỡng trong truyền thống yêu nước và đấu tranh bất khuất của gia đình, của quê hương sông Lam núi Hồng “địa linh, nhân kiệt”. Người được thừa hưởng trí tuệ uyên bác của người cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và ảnh hưởng, hấp thụ những bài học về lòng nhân ái, đức hy sinh cao cả của mẹ là bà Hoàng Thị Loan. Những năm tháng thơ ấu, Người đã chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, đời sống nhân dân lầm than, cơ cực dưới sự thống trị hà khắc và tàn bạo của thực dân Pháp. Các cuộc đấu tranh do các tầng lớp sĩ phu yêu nước lãnh đạo liên tiếp nổ ra: phong trào kháng Pháp của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, đặc biệt là phong trào Cần Vương do Tôn Thất Thuyết khởi xướng. Tuy chiến đấu rất anh dũng nhưng rồi các phong trào trên cũng lần lượt bị đàn áp. Thất bại của phong trào Cần Vương chính là cái mốc đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của thời kì đấu tranh chống Pháp giành độc lập dân tộc dưới khẩu hiệu “phò vua cứu nước” nằm trong hệ tư tưởng phong kiến. Nó chứng tỏ giai cấp phong kiến đã không còn đủ uy tín và lực lượng để giải quyết vấn đề giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp. Đoạn tuyệt với con đường cứu nước phong kiến, những sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX hướng ra nước ngoài tìm đến những con đường cứu nước mới để mong được giải phóng. Trong khi cụ Phan Bội Châu sang Nhật Bản tìm con đường Duy Tân, sang Trung Quốc tìm con đường cách mạng Tân Hợi (1911) thì cụ Phan Châu Trinh lại hướng theo con đường nghị viện tư sản của các nước phương Tây. Những con đường đó tuy có màu sắc khác nhau nhưng đều đi theo con đường dân chủ tư sản, không phù hợp với tình hình Việt Nam lúc bấy giờ. Trong bối cảnh như vậy, phải có những con người ưu tú với trí tuệ mẫn cảm và tầm nhìn vượt lên trên những hạn chế của điều kiện lịch sử trong nước mới có khả năng tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam .

Với tinh thần ham hiểu biết và học hỏi, với tư duy độc lập sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành chí hướng lớn lao và quyết tâm tìm con đường đi cho cho riêng mình. Người không theo con đường của các bậc tiền bối đã đi, mà có suy nghĩ khác, cách thức khác. Về mục đích đi ra nước ngoài của mình, Bác nói: Muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau ba từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Và nhiều lần Bác khẳng định rằng, Bác phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, Bác sẽ trở về giúp đồng bào mình.

Ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, trong vòng 10 năm tiếp theo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới như Singapo, Sri Lanka, Ai Cập, Pháp, Angiêri, Tuynidi, Xênêgan, Ghinê, Cônggô, Mỹ, Braxin, Anh, Tây Ban Nha, Đức, Bỉ, Italia, Thuỵ Sĩ,… Với ý chí kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn, Người sẵn sàng làm mọi thứ nghề lao động chân tay như nấu bếp, làm vườn, vẽ thuê,…để sống cuộc đời của người lao động, hoà mình vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức bóc lột ở thuộc địa.

Rõ ràng, qua những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm đó, chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh có những biến chuyển mới. Sự đồng cảm với đồng bào mình đã được nâng lên thành sự đồng cảm với nhân dân lao động, với các dân tộc cùng cảnh ngộ bị áp bức như dân tộc mình. Quá trình thâm nhập thực tiễn rộng lớn đó cũng đã giúp Người nhận thức rõ hơn, khái quát hơn diện mạo của kẻ thù: không chỉ đối với thực dân Pháp mà cả chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc nói chung: “ …những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo. Ở đâu chúng nó cũng thế… Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu ”2 .

2. Hồ Chí Minh – từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác-Lênin

Trong 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước từ (1911 – 1941), Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều nước khác nhau, làm nhiều nghề để sinh sống và hoạt động sôi nổi trong phong trào cách mạng quốc tế, tiếp thu nhiều tinh hoa văn hóa nhân loại,…đều tuân theo một chỉ dẫn xuyên suốt: “việc gì có lợi cho dân, phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”3. Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh cho biết thêm rằng, trước khi đến với chủ nghĩa Lê-nin: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Tin theo Lênin, đi theo con đường của Lênin vĩ đại, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp diễn ra cuối năm 1920 tại TP.Tours (Pháp), Nguyễn Ái Quốc khi ấy tham dự với tư cách là đại biểu chính thức và được mời phát biểu. Tại diễn đàn quan trọng này, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo những sự thật tàn bạo mà thực dân Pháp đã thi hành ở Đông Dương. Người kêu gọi Đảng Xã hội Pháp hãy hành động để ủng hộ các dân tộc bị áp bức, trong đó có nhân dân Đông Dương. Chính tại đại hội này, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế thứ ba - Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đằng sau sự kiện chính trị trọng đại này chỉ có sự hiện diện của một động lực duy nhất – lòng yêu nước với khát khao mãnh liệt giải phóng cho đồng bào: “Tự do cho đồng bào tôi độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”4. Đây là một sự kiện chính trị vô cùng quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và trong lịch sử cách mạng nước ta, Người đã đi từ lập trường của chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự kiện này cũng mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một giai đoạn mới – giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường này phù hợp với yêu cầu tất yếu khách quan của lịch sử và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trong nước.

Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”5. Như vậy, chủ nghĩa yêu nước trong Hồ Chí Minh luôn được thể hiện trong lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; lý tưởng xây dựng một Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, ấm no, tự do, hạnh phúc đến với mọi người, mọi nhà; đó là chủ nghĩa yêu nước chân chính, mang chân lý tuyệt đối. Chính chủ nghĩa yêu nước đó đã được truyền bá thấm đượm vào toàn thể dân tộc Việt Nam và được hiện thực hóa trong cách mạng Việt Nam qua từng giai đoạn.

        Tóm lại: Trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay, chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện bằng sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và xây dựng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chủ nghĩa yêu nước phát sinh hằng ngày, hằng giờ trong mỗi con người chân chính, trong phong trào thi đua của những người lao động tiên tiến, trong cuộc đấu tranh cho sự công bằng và tiến bộ xã hội, cho sự tổ chức công việc một cách khoa học. Trong bối cảnh đó, học tập, vận dụng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, chúng ta càng phải tăng cường bồi dưỡng tinh thần yêu nước, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân để không ngừng củng cố, phát triển hơn nữa chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong thời kỳ hiện nay.

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem bài viết: Hồ Chí Minh – Từ lòng yêu nước đến giải phóng dân tộc của tác giả Bùi Kim Hồng – Giám đốc khu Di tích chủ tịch Hồ Chí Minh tại phủ chủ tịch (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 23/05/2011)

2 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Trẻ, TP.Hồ Chí Minh, 1999, tr.23-24.

3Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000, t.5, tr.171

4Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000, t.6, tr.226.

5Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000, t.4, tr.246.



Liên kết